Những ngày giữa Thu này, trời lạnh se sắt, và không khí trở nên khô khốc ở nơi tôi đang ở. Những người đàn ông bỗng dưng điệu như phụ nữ mỗi khi bước ra khỏi nhà, bởi phải thoa lên mặt lớp lotion giữ ẩm, thoa lên môi một chút sáp và khoác lên người thêm một lớp áo choàng, những hành động mà ngày thường chả mấy người quan tâm lắm.
Tôi dạo một nốt La trưởng trên phím đàn, bởi nốt này dịu dàng như những ngọn gió thu nhè nhẹ thổi phía trên những tán lá phong, mang theo cái lạnh tưởng chừng lơ đãng mà thấu xương thấu thịt. Ngọn gió lượn lờ qua những toà nhà cao tầng, những ngọn đồi cao, những cành cây đang vươn lên kiêu hãnh và thì thầm những lời nói gì đó, mà bất chợt làm run rẩy từng mảng bê tông cốt thép, từng tảng đá to lớn và làm rụt rè ngay cả những cành cổ thụ già nua đã trải qua bao mùa gió chướng.
Nốt La trưởng chỉ đứng sau nốt Si, nốt cao nhất của 7 nốt nhạc. Thành ra âm vực của làn gió mang thanh âm La trưởng cũng cao vút, xoáy vào tận trong từng lớp áo khoác của người đi đường, thổi tốc lên từng đám lá cây xao xác đang cố bám víu vào cành bằng chút sức tàn lực kiệt, và cuối cùng, những làn gió mang thanh âm La trưởng đó thổi vút lên bầu trời, xua những đám mây đang treo lơ đãng trên cao đó thành từng cụm một, rồi kéo chúng đi ra chỗ khác, để thỉnh thoảng ánh mặt trời lại lấp ló đâu đó trên không trung, nheo mắt nhìn xuống mặt đất và nhoẻn nụ cười, nụ cười hiếm hoi của những ngày Thu lạnh lẽo.
Làn gió mang thanh âm La trưởng như những người giám ngục Azkaban, đang bay lơ lững canh gác tầng không gian phía trên những tán lá cây, mà những chiếc lá là những tù nhân của ngục Azkaban, đang nằm thoi thóp chờ chết. Những kẻ giám ngục mang thanh âm La trưởng này thỉnh thoảng ghé vào một tử tù, đặt lên môi nó một nụ hôn của thần chết, và lạnh lùng rút sạch sinh khí của nó, rồi bứt nó ra khỏi cành, thổi nó bay vào không trung để được ngắm nhìn ánh mặt trời lần cuối, rồi quay lưng tiếp tục công việc canh gác của mình, để mặc kẻ tử tù rơi xao xác xuống mặt đường…
Tôi dạo một nốt Đô trưởng, bởi nốt này vững chải, cân bằng và vui tươi khỏe khoắn như những toà nhà cao tầng, những cây cổ thụ cao ngất và những đỉnh núi vững chắc đã trải qua không biết bao nhiêu mùa gió chướng. Những vị thần Sáng này vươn mình kiêu hãnh trên không trung, thách thức những ngọn gió Thu đang chơi trò chơi chết chóc của chúng, và như không cần quan tâm đến sự đe dọa đáng sợ đó, những vị thần Sáng mang ra những bảng màu rồi ngồi xuống tô điểm cho không gian của mình, như khước từ sự có mặt của thời gian.
Họ tô những mảng màu vàng óng ả lên những tán lá phía trên cao. Họ dậm thêm những sắc đỏ cho những lá phong, nhuộm đỏ cả một con đường. Họ bôi từng vệt màu nâu đặc lên những cành cây đang vươn ra phía ngoài kia của lưng chừng núi, và họ tô một màu xám xịt lên từng vách đá dựng đứng, từng mảng mây trôi lững lờ.
Nhưng họ – những vị thần Sáng – những toà nhà cao tầng, những đỉnh núi, những cành cây cổ thụ vững chắc kia – không đủ đông để chống chọi lại với những ngọn gió mang thanh âm La trưởng đầy kiêu hãnh và xuyên thấu tim gan kia. Họ đứng co ro, chật vật và thỉnh thoảng, thỉnh thoảng mà thôi, khe khẻ nhúc nhích để nói với những đồng liêu rằng ta còn sống đây, chứ chưa bị chúng nó hút hết nhựa sống đâu.
Những thân cây cổ thụ, những toà cao ốc, những đỉnh núi bỗng dưng đứng co cụm, và lặng im, để mặc cho những cơn gió Thu làm trời làm đất quanh mình, để giữ chút làn hơi ấm còn sót lại, và để giữ cho không gian và thời gian đứng lại. Ngày trở nên ngắn hơn, không còn thuộc về nốt Đô trưởng nữa, mà đã dần chuyển qua nốt Mi trưởng, nốt của những nhớ nhung xao xuyến.
Những nhớ nhung xao xuyến mang tên Mi trưởng đã mang ta về với cái lạnh nhè nhẹ, và dịu dàng của Sài gòn những ngày Thu đang đến. Những ngày này, ra đường buổi sáng sớm với cái áo lạnh quanh năm chỉ mặc có mấy ngày, người Sàigòn không quen với cái lạnh bất chợt này, bỗng dưng thấy vui vui trong bụng.
Đi không dám đi nhanh, vì sợ cái làn hơi ấm của cơ thể mình tan biến mất. Cười không dám cười tươi, vì sợ gió lùa vào miệng lạnh buốt tới chân răng. Nói truyện cũng nhỏ nhỏ nhẹ nhẹ, dường như sợ cái lạnh đang ghé thăm Sàigòn phật lòng, kéo đi đâu mất, thì lại phải trở về với những ngày nóng nực thường niên.
Nốt Mi trưởng kéo tôi trở về với quá khứ, của những ngày mới học lớp 10, đi học buổi sáng sớm lạnh run cầm cập, mà vẫn tỏ ra trai tráng nam nhi không thèm mặc áo lạnh, để được bạn gái mua tặng một chiếc áo ấm mà vẫn còn giữ đến bây giờ. Nốt Mi trưởng của nỗi nhớ kéo tôi về với những ngày mưa tầm tã của những năm mười hai, cười đùa đó, rồi lại bận tâm về những lớp học thêm, những môn thi tốt nghiệp, những cuốn sách luyện thi đại học chất đống trên bàn.
Hợp âm La thứ dành cho mùa Thu của tôi đã dứt, mà sao nó vẫn ngân vang trong lòng, ngay cả khi tôi buông ngón tay ra khỏi phím đàn và nhấc bàn chân ra khỏi pedal.
Mùa Thu có khi vô cùng cũ kỹ, có khi mới mẻ đến không ngờ, cũng như hợp âm La thứ vậy, phải không bạn…
(Photo: Mùa thu ở Kaleidoscope, California – Mỹ và Arboretum, Phần Lan.
*Music: Tổ khúc Bốn Mùa (Violon)- Antonio Vivaldi, bài giao hưởng Mùa Thu cung Fa trưởng, chương 8, phần một)
