Khai Bút Đầu Năm – Bánh Tét

Năm nào cũng vậy, cứ hễ Tết tới thì bà con miền nam nấu bánh tét ăn. Nhà nào đông người thì bắc nồi rửa lá rồi cả nhà xúm vô gói bánh bỏ vô nồi nấu trên dưới nửa ngày, mà đa số chụm lửa nấu ban đêm. Mấy đứa nhỏ thích xúm bên cái nồi nấu bánh tét không phải vì cái nồi lẫn cái thứ đang được nấu bên trong, mà vì bản năng cơ bản của loài người nó thúc đẩy từ thời tiền sử: thấy lửa là tự động kéo tới bu xung quanh. Mà nhứt là mấy ngày sắp tết trời lành lạnh, cái lò nấu bánh tét thì nó ấm áp, nên chúng con nít bu quanh chơi thì đông chứ châm củi châm nước canh lửa thì ít.

Cái bánh tét cũng lạ, có người ăn cả đời cũng không cần quan tâm tới nó là cái gì, chỉ cần biết năm hết tết đến là lôi bánh tét ra ăn. Người có tìm hiểu thì nói là bánh tét là nói trại của bánh tết, là bánh cho ngày tết. Có người cũng tìm hiểu đọc sách nói rằng bánh tét và bánh chưng là một cặp, xuất hiện trong truyền thuyết vua Hùng Vương thứ mấy không rõ tên là Lang Liêu được ngôi vua là nhờ món bánh trời đất này, luôn tiện tui xin đính chính là cặp bánh trời đất đó là bánh chưng và bánh dầy, không phải bánh chưng và bánh tét nha bà con.

Có người kể, hình như má tui, rằng ngày xưa Nguyễn Huệ đem quân đi đánh trận Ngọc Hồi là trong mùa Tết, cuộc hành quân dài ngày đó đòi hỏi tốc chiến tốc thắng, không được nghỉ mà phải đi một quãng đường dài, nên Nguyễn Huệ đã sai hậu cung cùng quân nhu gói một loại bánh có thể cất dọc đường, thả trước xuống sông suối ao hồ bên đường tiến quân, vừa no vừa ngon, vừa mang hương vị tết để quan quân có ý chí chiến đấu, đi đến đâu đói thì kéo bánh dưới ao hồ lên ăn chứ không cần hạ trại nấu nướng. Mà vua còn yêu cầu loại bánh đó phải không cần cắt bằng đao kiếm vì đao kiếm để chém quân thù không thể cùn. Nghe đồn, tui nhắc lại là tui nghe đồn cái loại thực phẩm có thể thả xuống ao hồ trên dưới 10 ngày không hư được hậu cung Nguyễn Huệ sáng tạo năm đó là cái bánh tét.

Bánh chưng và bánh tét không có điểm gì liên quan tới nhau cả, mặc dù cả hai loại bánh trên đều rộ lên vào mùa Tết, và chắc chắn hai loại bánh này không xuất hiện đồng thời trong lịch sử Việt Nam, vì bánh chưng được đặt tên theo cách nấu còn bánh tét được đặt tên theo cách ăn. Trong cả hai cái tên đó, không có bánh nào được đặt tên để kỷ niệm một sự kiện nào, hoặc một hình thái nào của trời và đất cả, mặc dù, theo ông Huỳnh Tịnh Của thì có một sự liên quan.

Theo Đại Nam Quấc Âm Tự Vị thì bánh chưng là địa bỉnh(*), bánh tét là thiên bỉnh(**), chữ bỉnh dấu hỏi, nghĩa là bánh chưng là bánh đất, bánh tét là bánh trời, đất thì vuông còn trời thì…trụ(?). Tui không biết tác giả viết tài liệu này từ đâu, nhưng bỉnh là từ rất hiếm gặp trong tiếng Việt.

Bỉnh tiếng Hán trong chữ viết có dùng bộ lúa (gạo):秉, nhưng bỉnh rất khó nói trại thành bánh được. Cố gắng gượng ép thì là ping-peng-panh-pánh-bánh (ping cùng nghĩa với bính, là pháp luật), hoặc ping-peng-băng-bănh-bánh (ping là băng tuyết), cả hay nghĩa ping đó đều không thuyết phục để dịch thành bánh.

Bánh chưng là bánh đất, làm từ lúa gạo, do con người phải theo phương pháp từng công đoạn mà chế tạo nên gọi là bánh chưng, đó là bỏ qua chữ chưng trong những cách nấu nướng của dân mình. Rất tiếc, chữ chưng là nói trai từ chữ trưng trong tiếng Hán, mà chữ trưng đó có nghĩa là “dùng một món gì đó nổi lên giữa xung quanh, sau khi trải một quá trình tôi luyện” (tui giải thích), trong nấu ăn thì được gọi là “hấp cách thuỷ”.

Bánh tét là bánh trời, khi ăn dùng chính dây gói của chiếc bánh mà siết lại cắt bánh thành từng khoanh để ăn. Bánh tét không có gì đặc biệt, cách nấu cũng đơn giản, nêm nếm gia vị càng đơn giản, cách gói cũng dễ, chỉ vài ba cái lá chuối và hai ba sợi lạt là gói được cái bánh tét, ăn cũng dễ, không cần dao nĩa gì khó khăn, lột cái lá chuối bên ngoài làm dĩa, dùng sợi lạt gói bánh làm dao, miệng ngậm một đầu sợi lạt đầu kia một tay cầm, đưa cái bánh vào giữa sợi dây rồi quấn quanh cái bánh một vòng, siết lại là cắt được một khoanh, đó là hành động tét bánh.

Anh chị em nào đã ăn các nhà hàng điểm tâm của người Hoa đều biết món bánh gạo hấp (âm tiếng Hoa là lo-mai-gai), khi gọi sẽ được dọn ra một chiếc bánh y như chiếc bánh chưng thu nhỏ, cũng được gói bằng 6 sợi dây lạt thành 9 ô vuông như chiếc bánh chưng, đặt trong một xửng hấp cách thuỷ. Tui lượm được một cái hình trên mạng như sau:

 

hình lấy tại đây

Món này không phải gói bằng lá dong, nhưng về hình thức thì y như cái bánh chưng của mình, bánh làm bằng gạo dẻo, nhân thịt có tẩm ướp gia vị mặn mòi, khác với bánh tét nhân thịt chỉ ướp muối tiêu hành sơ rồi đem luộc.

Có thể bánh chưng ban đầu là cái bánh bên trên, nhưng người ta làm nhỏ còn mình làm to (Việt Nam ham to), sau đó bánh bự đem hấp cách thuỷ không chín hoặc chín quá lâu (tốn củi lửa) nên người ta đem luộc luôn. Đó là điểm tương đồng sát nhất giữa hai loại bánh ngày tết này, ngoài ra không còn điểm nào tương đồng nữa.

Bánh tét, sau khi gói và đem nấu, thì miếng mỡ trong thịt sẽ tan ra thấm vào nguyên cả lớp nếp bên ngoài, miếng bánh dai mà ướt tạo cảm giác dễ nuốt, cái lá chuối trước khi đem gói đã trụn qua nước sôi cho chín nên màu diệp lục không còn dính vào lớp nếp bao nhiêu, nhìn cái bánh tét là biết người gói đã gói được bao nhiêu cái bánh rồi. Tui có một cái hình bánh tét, đăng lại bà con coi:

Không có lý lẽ nào vững chắc (cho tới khi tui viết bài này) để cho rằng người Việt Nam học hai loại bánh này từ người Hoa, vì cái loại bánh ăn Tết của người Hoa đại lục là bánh Cao Niên, còn bánh ăn Tết của người Đài Loan là bánh tổ, cả hai loại này đều không có gì liên quan tới hai loại bánh trong bài đang nhắc đến.

Cũng không có lý lẽ nào vững chắc (cũng cho tới khi tui viết bài này) cho rằng Lang Liêu là người sáng tạo ra bánh chưng và bánh dầy, bởi vì cái bánh chưng của chúng ta dùng chữ “trưng” của người Hoa để nói về nấu “hấp cách thuỷ” cái bánh, và có một người anh em đầy đủ hình lẫn ý của chiếc bánh chưng vẫn còn đang tồn tại trong các nhà hàng điểm tâm của người Hoa như tui đã nói; còn chiếc bánh dầy thì có thể mua ở tất cả các bản làng dân tộc thiểu số biên giới Việt Trung với hình thức y chang: hai miếng bột kẹp miếng đồ ăn ở giữa, cụ thể là ở Sapa vẫn có một loại bánh tên là páu plau, anh chị em nào rảnh đi ăn đi rồi về xem lại.

Bài viết khai bút này đã quá dài dòng, tui xin dừng bút ở đây mặc dù còn nhiều điều chưa kịp nói tới. Khi bắt đầu viết, tui không có ý định phân biệt bánh nào như thế nào, chỉ muốn góp ý nhận định lại các loại bánh mà người dân đang dùng để ăn Tết, vì ít ra, mỗi người dân Việt đều cần phải biết chúng ta đang ăn cái gì, cái đó như thế nào, mong anh chị em giữ tinh thần đó để hiểu người viết.

Tui cũng không rõ với cái bài khai bút đầu năm của mình như thế này thì năm nay sẽ ra sao, dù sao đi nữa thì tui cũng chúc anh chị em một năm Bính Thân an khang thịnh vượng, tài lộc đầy nhà và gia đạo bằng an.

Thương!

Hình chú thích:

bánh tét 1bánh tét 2

** bánh chưng 1bánh chưng 2

Likes(1)Dislikes(0)

1 thought on “Khai Bút Đầu Năm – Bánh Tét

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *