Mùi ruồi

Trong một khu chợ đã bỏ hoang của những người khai thác khoáng sản, có nhiều loài sinh sống. Chó, ruồi, kiến, gián, chuột bọ, các loại côn trùng là cư dân lâu đời trong chợ, bọn chúng đang sống yên ổn dưới sự cai trị của những con chó bergiê, thú nuôi bị bỏ lại của đám người khai thác. Tuy vậy, vẫn có một đám chó cảm thấy bất bình vì sự hiện diện của loài bergiê này..

Chúng họp nhau lại, một con chó nói:

  • tôi thấy tại sao chúng ta cứ phải đi kiếm mồi đem về dâng cho đám bergiê đó, rồi đợi chúng nó phân phát lại cho cả chợ vậy? Đây là đất của chúng ta, chúng ta không có nghĩa vụ phải làm nô lệ cho bọn ngoại xâm đó. Tôi nói chúng ta nổi dậy chiếm cứ lại cái chợ này.

Và bằng nhiều cách, những con chó phá đám đó ngày đêm quấy nhiễu tới mức đám bergiê kia chán nản, và quyết định bỏ qua một nơi khác, không quên để lại vài dấu tích của mình trước khi đi, đặng làm chứng rằng những con bergiê đã “been there, done that”. Đám chó lên cầm quyền, tuyên bố đây là cái chợ độc lập, và muông thú trong chợ từ đây sẽ được ấm no hạnh phúc dưới sự cai trị của “muông thú”.

Nhưng những con chó thì luôn đói bụng, nên chúng dần ăn sạch mọi thứ trong chợ. Chỉ sau ba tháng, mọi sản vật trong chợ đã bị đám chó ăn hết, cây không kịp ra bông, những con sông không kịp sinh cá và những cái lá thì quá xảm xì. Nhưng những con chó già vẫn cảm thấy rằng chúng xứng đáng được ăn nhiều hơn thế vì công lao giành lại “độc lập” cho cái chợ, nên chúng quyết định tiếp tục ăn.

Chúng không chỉ có ăn, mà chúng còn sinh sôi nẩy nở. Mùa đông năm ấy, cư dân trong chợ đã vượt giới hạn cung cấp lương thực của khu chợ và vùng xung quanh, và các con thú trong đó bắt đầu chết đói.

Đám chó thì không chết đói, vì chúng đã tích trữ đồ ăn trong ổ khá nhiều. Nhưng chúng không quen lao động và trồng trọt, nên chỉ sau một thời gian ngắn, chúng đã ăn hết lương thực dự trữ trong kho. Những con chó bắt đầu chuyển qua săn mồi là những động vật khác, hoặc những con chó yếu hơn mình.

Cái chợ đó năm ấy, ngoài nạn đói, còn một sự kiện kinh khủng hơn, chính là những con vật ăn thịt lẫn nhau, hoặc ăn thịt chính đồng loại của mình. Những cái xác thú chết vì đói đã bốc mùi cũng trở thành món ăn cho những con còn sống. Chúng ngấu nghiến, cắn xé, tàn sát lẫn nhau chỉ để mưu cầu sự sống, bất chấp việc ăn thịt đồng loại của mình sẽ dẫn đến thoái hóa giống trong tương lai. Nhưng, chó mà, chất thải còn ăn, ngại gì một miếng thịt đã bốc mùi.

Trong những cư dân còn sống sót của khu chợ năm ấy, có một đám ruồi nhặng vo ve, hóa ra chúng trở thành loài ít bị săn lùng nhất. Nhưng nỗi sợ hãi nhìn những con thú khác bị ăn thịt và nghĩ tới cảnh mình cũng sẽ bị xơi tái tương tự, đám ruồi đó đã quá sợ hãi, tới nỗi chúng tập hợp nhau lại để bàn kế hoạch sinh tồn:

Một con ruồi bự nhất nói:

  • tôi nói chúng ta tấn công đám chó kia, nếu không tấn công chúng, sẽ có ngày chúng ta bị ăn thịt. Hôm kia chính tôi đã xém bị chúng ăn sống, trong lúc tôi cùng một tốp ruồi khác bu một khúc xương đã mục, một con chó lao vào táp khúc xương đã thối rữa ấy, và cú táp đó đã giết chết ít nhất hai chục mạng khác, tôi may mắn không trúng cú táp đó. Những cú táp đó có thể xảy ra cho bất cứ con ruồi nào. Tôi nói chúng ta nổi dậy giết chúng.

Đám ruồi căng thẳng bàn bạc. Sự thật là đám ruồi đó đang ở thế chân tường, trước sau gì cũng là mồi của những con chó đói, nên không nổi dậy là chết chắc, nếu tấn công thì có khả năng sống sót. Chúng quyết định thà chết chung chứ không bị ăn thịt.

Và chó thì không nhiều bằng ruồi. Và vì ruồi thì biết bay. Nên đám ruồi đã thắng những con chó đói.

Với sự thù hận của những kẻ mang trong mình nỗi tuyệt vọng cầu sinh, với sự hả hê của những con vật hèn kém thắng cuộc, và với sự mừng rỡ của loài côn trùng lần đầu được cầm quyền, những con ruồi quyết định thanh trừng những kẻ đã gieo rắc sự sợ hãi cho mình trước đó. Chúng đấu tố những con chó, và chia lại địa bàn cư trú trong khu chợ.

Con ruồi may mắn thoát cú táp giết người đó vẫn còn lạnh sống lưng vì cú chết hụt năm xưa, đã tìm lại con chó táp hụt mình, và giáng trả tất cả thù hận, khiếp đảm, sợ hãi lên đầu con chó đó. Sự trả thù đó không riêng lẻ, và đàn chó đã cảm thấy rằng sự tồn tại của chúng ở khu chợ đó quá nguy hiểm. Chúng thoát chạy về hướng những con sông, bỏ lại khu chợ cho kẻ thù.

Những con chó già, hoặc yếu, hoặc bất lực tới mức không dám lê thân ra khỏi khu chợ, chấp nhận ở lại với lựa chọn một là bị ruồi ăn thịt, hai là trở thành nô lệ cho những con ruồi. Những con chó ở lại đó, một số con sẵn sàng thay đổi bản năng loài chó trở thành loài bu bám đã tồn tại ngoan ngoãn và bình yên, bằng cách ngày ngày đi sục sạo khắp những ngõ ngách của chợ để tìm kiếm lũ chuột, gián, sâu bọ và mang về cho đám ruồi và chờ đợi sự chia chác. Những con còn lại bị giết. Và những con ở lại chính là những con đã từng ăn thịt đồng loại mình, giờ đây chúng mang trong mình độc tố sinh sôi nảy nở, và khoác thêm kiếp ruồi. Ôi những con nghiệt súc.

Đàn ruồi, với tốc độ sinh sôi nảy nở vô cùng nhanh, đã nhanh chóng lấp đầy khu chợ. Chúng có mặt khắp mọi nơi, quan sát mọi thứ và bu vô tất cả những thứ có thể chấm mút được. Khu chợ đầy tiếng vo ve của ruồi nhặng, và tất cả mọi thứ trong khu chợ nhanh chóng bốc mùi.

Mùi ruồi.

Vài chục năm sau.

Trong cơn vẫy vùng cứu vãn danh dự của một đám súc sanh, tất cả những thứ được gọi là “hồi xưa”, “lúc trước”, “ngày ấy” được lôi ra để đánh lạc hướng nhìn thiên hạ, ấy là “tớ không phải như thế”, “tôi nào đâu như thế”, “cái thứ ấy từ chợ khác tới, chứ chợ này không có như vậy”, nhưng cái thực chất thì nó vẫn nằm đó, chình ình, và thúi hoắc.

Những bằng chứng về ngôn ngữ, ẩm thực, văn hoá, lịch sử và địa lý đã chứng minh rằng đám súc sanh đó chưa từng sở hữu bất kỳ bản tính của con người, đã được bưng bít bằng mọi cách hoặc vô tình bị hé lộ hớ hênh, nhưng chúng đã quên rằng súc sanh tồn tại giữa thế giới loài người thì một thằng mù cũng nhận biết được sự khác nhau của các loài, điều gì phải đến rồi cũng sẽ đến, sự gì tất yếu cũng sẽ lòi ra.

Và, cái gì được xây dựng trên một cái chợ, cũng sẽ là cái chợ.

Văn hóa của chợ, thì có nghiên cứu, đào bới hay tìm tòi bươi móc, bưng bít che đậy các kiểu, nó vẫn bốc mùi.

Mùi ruồi.

2 thoughts on “Mùi ruồi

    1. Chợ, sẽ là chợ, không thể thành viện bảo tàng hay nhà sách gì được nha con, khỏi thắc mắc.

      Lịch sử nhân loại chứng minh đã cho thấy là chưa từng có cái chợ nào biến được thành thứ gì khác văn minh hay nghệ thuật hơn nó kkk.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *