Ăn Tết Là Cái Nghĩa Đi Cho

Đáng lẽ tui đăng một bài thơ mần tối hôm qua, lúc đêm giao thừa, nhưng nghĩ lại chưa phải lúc để đăng, nên thôi, đầu năm khai blog bằng một câu chuyện khác, kể anh chị em nghe đầu năm đầu tháng cho vui.

Bà Tư, sống ở Long An. Nhà bà Tư là một căn nhà không lớn, không nhỏ, có vườn tược trồng ba cái cây ăn trái, có cái ao nuôi cá, có miếng ruộng giao cho đứa con thứ ba kêu là cậu Ba ở chung nhà mần lúa một năm ba mùa, có mấy đứa con của cậu Ba năm nay mười chín hai mươi đứa mới cưới dâu đứa mới gả chồng cũng gần đó sớm chiều chạy ra chạy vô tíu tít. Việc trong nhà có người làm, việc ngoài đồng cũng có người làm, nên bà Tư sống có thể nói là an nhàn, trong nhà không thiếu trái gì, cũng không thiếu con gì.

Bà Tư có bảy người con, đều đi làm ăn xa, có cậu Ba là ở chung nhà vì tánh cẩu thích ăn đâu ở đó không thích đi xa, còn sáu người con còn lại người thì lên rừng làm gỗ, người thì làm cà phê, cao su, người thì mua bán ngoài chợ, người thì xuống miệt Năm Căn chế biến tôm cá khô, ai cũng có gia đình, con cái ba bốn đứa. Nên cái dòng của bà Tư, không tính chị em thì riêng bà Tư đã là cái cội của đâu khoảng hai, ba chục nhánh thế hệ kế tiếp.

Nói thì nói vậy, chứ căn nhà của bà Tư quanh năm cũng chỉ có tiếng chim kêu, chó sủa, thi thoảng có tiếng trẻ con là mấy đứa cháu nội đi học về chạy qua nhà bà nội xin vô vườn bẻ trái cây ăn, chứ quanh năm vắng lặng, đông nhất chỉ có mùa cuối năm, tết nhứt, thì cái đám con đứt ruột sanh ra của bà Tư mới lùm đùm dắt díu nhau về cội, căn nhà mới rộn lên được đôi ba ngày.

Dường như thành cái lệ, năm nào cũng vậy, người về đầu tiên là cô Út, làm cá ở dưới Cà Mau, rồi tới cậu Hai, cậu Tư làm cà phê với cao su, rồi tới cậu Năm làm trại gà, người về cuối cùng là cô Sáu, đi buôn bán trên Saigon. Cái thứ tự đó hiếm khi nào thay đổi chục năm nay, riết rồi thành cái lệ, tới nỗi bà Tư nhắm được ngày nào đứa nào dắt gia đình về đặng kêu mấy đứa ở sẵn trong nhà vầy:

  • “bây ra vườn bắt con gà ngon ngon vô luộc cho thằng Năm nó về nó ăn coi, nó nuôi gà đó nha bây, lẹ đi chứ trưa trưa là nó tới đó à nha”

Đó là bà Tư dặn từ sáng sớm của một cái mùng nào đó sau ngày đưa ông Táo, mà hay lắm, như có cái linh cảm, riết rồi không có đứa nào gọi điện báo là sắp về, mà cứ hễ sáng đó nghe má kêu làm cái món gì là mấy người con biết ngay rằng bữa đó anh, chị mình về, không sai một bữa.

Mấy người con đi làm xa cả năm trời, về nhà đem theo cái thứ họ làm cả năm đó về cho má, rồi cụ bị thêm một mớ dư dư đưa má đặng bà Tư đem cho hàng xóm, láng giềng quanh nhà, đặng bả khoe: cái này con tui làm nè, ông anh bà chị ăn “lấy thảo” nghen, mặc dù cái lấy thảo đó của bả là hai ba ký tôm khô một lượt, hay cả ký trà, ký cà phê. Tui nghĩ hên là con bà Tư không có ai làm nệm mút hay bánh xe, chứ có chắc hàng xóm của bả cũng có khi được tặng nệm mút, bánh xe bò “lấy thảo” nhân mùa Tết quá.

Cái nhà bà Tư cứ mỗi mùa Tết tới là không thiếu một cái gì, cây trái thì hái trong vườn có đủ, bánh tét thì lấy lúa nhà trồng gói, các loại mứt thì đã làm lai rai từ đầu tháng Chạp, còn các loại bánh kẹo hay khô chả thì mấy đứa con tha về đủ cả, tới nỗi cái nồi thịt kho là cái thứ duy nhất phải đi mua thịt ngoài chợ về nấu thì trong đó cũng có hai chục trứng gà của cậu Năm đem về. Năm nào nhà dư quá, thì bà Tư sai mấy đứa con hay có khi đích thân mình đem đi cho bớt mấy nhà xung quanh, đặng người ta ăn lấy thảo.

Cái làng quê của bà Tư nó cứ như vậy, nhà này đem cho nhà khác một mớ đồ ăn, nói một câu là “tui hùn cho sắp nhỏ ăn chơi cho dzui”, hay tùy vui buồn mà thêm thắt “cái này nhà lỡ làm, mà dư quá, nhờ ông anh bà chị ăn bớt giùm một miếng”, “năm hết tết đến, nhà tui cũng không có lảm gì ngon, thôi thì tui ăn cái gì thì ông anh bà chị ăn chung cho dzui nghen”. Mấy câu đó nói riết nó thành câu cửa miệng, nhiều khi nó ngắn gọn thành một câu trớt quớt như vầy “ăn cho dzui”, vậy đó, hết rồi.

Một năm, cái thứ tự xuất hiện của mấy đứa con bà Tư thay đổi sau ngày cúng ông Táo, là thay vì người về cuối cùng là cô Sáu thì năm đó người về cuối cùng là cậu Năm.  Năm đó, cả nhà đốt củi chụm nồi bánh tét ngoài hàng hiên xong tới khuya đi ngủ gần hết, còn bà Tư, cậu Hai và cô Bảy ngồi canh lửa, bà Tư ngoắc cậu Hai lại gần, nói:

  • má coi bộ năm nay thằng Năm nó làm ăn không có khá hả bây?

Cậu Hai dòm má, hỏi: ủa, sao má biết?

Bà Tư nói:

  • má đâu có biết, mọi năm nó dzìa sớm lắm, hăm bốn hăm lăm là nó dzìa rồi, năm nay tới sáng hôm nay nó mới dzìa, mơi mốt là giao thừa rồi, má nghĩ chắc nó trục trặc gì đó trong chuyện làm ăn nên nó mới lâu lắc dzậy, phải hông?

Cậu Hai nói: dạ đúng rồi má, năm nay cái trại gà của thằng Năm làm ăn hơi thất, nó phải ở lại ráng ra hết số gà cho tết chứ không qua mùa là gà già, không ai mua nữa.

Bà Tư nói: rồi có thua lỗ gì hông bây?

Cậu Hai nghĩ nghĩ, rồi nói:

  • con cũng không biết, thấy mặt nó căng quá, chắc hổng sao đâu má, có gì là nó bàn với anh em tụi con rồi.

Bà Tư nói: ừa, tụi bây coi nha, đửng để em bây thua lỗ rồi bỏ nghề tội lắm nha con.

Cái sự ăn Tết của bà Tư, tới bây giờ là hơn năm chục năm sửa soạn cái mâm ngũ quả cúng bàn thờ, đối với bà Tư, thì cái Tết là cái nghĩa đi cho. Không ai xin ai cái gì, cứ nhà có dư thì đem cho người khác vậy, năm này qua năm khác, thế hệ này qua thế hệ khác cứ truyền thừa, rồi ý nghĩa của cái sự đem cho đó nó vùi lấp trong biết bao nhiêu lễ nghĩa, để rồi người ta không nhận ra được đó chính là một nét văn hóa của ông bà.

Tiết Xuân, gọi là Tết, theo dòng thời gian thì là mở đầu một năm mới, là sự bắt đầu lại của một vòng thời gian bốn mùa mới, nhưng trong tâm tưởng của dân mình, người ta ăn Tết là để tổng kết cái năm vừa qua làm ăn được mất ra sao.

Nhìn cái sự ăn Tết của một gia đình, người ta biết gia đình đó cả năm rồi đã để dành được bao nhiêu. Nhà nào làm ăn khá cả năm, để dành tích lũy được nhiều thì cây trái bánh mứt thịt chả ê hề sum suê, quần áo cũng xúng xính màu sắc đẹp đẽ. Nhà nào làm ăn không khấm khá thì cái tết cũng âm thầm nhẹ nhàng trôi qua hơn.

Cái văn hóa Á Đông của người Việt nó tinh tế ở chỗ, cha mẹ ở nhà quê nhận cái mớ quà bánh của mấy đứa con đi làm ăn xa cả năm đem về, đâu phải vì cần mớ đồ ăn đó. Mà cha mẹ nào tinh ý nhìn mớ quà biếu đó sẽ nhận ra con mình làm ăn được hay không, nhà này nhìn mớ quà nhà kia đem qua tặng sẽ biết nhà kia sắm Tết sung hay yếu để biết bên đó năm nay được hay thất, anh chị em nhìn mấy đứa cháu mình ăn mặc tươi tắn tới đâu để mà nhắm coi ba má nó làm ăn tốt xấu.

Biết, không phải để hơn thua, mà để phụ nhau một cái tất niên tươm tất, và cũng để phụ nhau năm tới.

Thí dụ bà Tư thấy nhà hàng xóm tới hăm ba rồi mà còn im lìm quá là thế nào cũng kêu mấy đứa con “sắm giùm” cái Tết cho nhà bên đó. Rồi để coi, ra giêng thế nào bà Tư cũng kêu nhà bên đó tát cái ao, lợp cái nhà, làm một chuyện gì đó để lại quả cho bên đó có đồng ra đồng vô.

Thí dụ bà Tư thấy cậu Năm về ăn Tết trễ, gói quà bánh đem về cũng nhẹ hơn, bà nhận mà trong lòng không có trách, chỉ đem cái lo lắng của mình kể riêng với cậu Hai, đặng “bây coi nha, đửng để em bây thua lỗ…”.

Ý nghĩa của cái tất niên, cái gói quà bánh biếu cuối năm mỗi dịp tết đến, chính là như vậy.

Cái điều đó xảy ra thường lắm, không chỉ thường ở nhà bà Tư, không chỉ thường ở Long An, mà nó thường tới mức, người bây giờ đem một hộp mứt qua nhà người quen tặng mùa Tết chỉ biết là tặng, chứ không để ý rằng vùi sâu trong cái hành động mang tặng hộp mứt đó, là sự tinh tế quan sát nhau của ông bà mình hồi xưa.

Từ cái hồi đi mở cõi.

Câu chuyện ăn tết của bà Tư còn nữa, nhưng khai bút tới đây e đã dài, tui xin dừng phím, khi nào có dịp tui lại mở ra kể tiếp nghen.

Nhân dịp năm mới, tui chúc anh chị em một cái Tết đủ đầy sung túc, và một năm mới an khang, phúc lộc đầy nhà.

1 thought on “Ăn Tết Là Cái Nghĩa Đi Cho

  1. Anh viết bài này hay quá! Có lẽ vì lớn lên trong cái văn hóa “đi cho” ấy, nó đã tự nhiên trở thành một phần của chính mình rồi, nên em chưa lúc nào nghĩ tới và phân tích cái chuyện “đi cho” tường tận như vậy. Bài viết cũng làm em hồi tưởng những cái Tết xưa ở VN và nhờ đó có dịp phân loại những loại đi cho khác nhau.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *