Thương Mại Điện Tử ở Việt Nam – Ghi ngắn

2 Comments

Từ hồi mở blog tới bây giờ (đâu khoảng 7 năm) thì chắc đây là lần đầu tiên tui có một bài viết liên quan tới chuyên môn của mình, hehe, thiệt là ngại quá đi à.

Câu hỏi: Theo bạn thì thương mại điện tử ở VN là gì?

Tui hỏi thiệt đó, đừng nghĩ tui giỡn! Theo bạn thương mại điện tử ở VN ngày hôm nay là cái gì?

Sẽ có rất nhiều câu trả lời rằng thương mại điện tử ở VN
- là facebook
- là 5giây
- là 123mua
- là bán hàng qua mạng
- là giới thiệu sản phẩm/dịch vụ qua trang web
- là sàn giao dịch trên mạng
- và là linh tinh xà bần các thứ mà những con người Việt Nam ưu tú có thể nghĩ ra.

Và tui không chắc là hên hay xui, tất cả những câu trả lời trên đều: ĐÚNG. 100% chính xác với thực trạng thương mại điện tử ở VN hiện nay.

Trong khi thực tế, thương mại điện tử được nhắc đến như sau: là một công cụ kinh tế được tạo ra nhờ internet, qua đó nó tiết kiệm được chi phí cố định, rút ngắn thời gian chọn lựa sản phẩm, tạo cơ hội bán hàng và mua hàng 24/24, mở rộng thị trường và đẩy nhanh sự luân chuyển của dòng tiền (qua việc hạn chế sử dụng tiền mặt).

Trong thương mại điện tử, người bán và người mua không gặp nhau, không mặc cả, không dùng tiền mặt và không có giới hạn không gian/thời gian của việc trưng bày/bán hàng/mua hàng của cả hai bên.

Nhưng đó là lý thuyết, và đó là cách làm của thế giới, không phải của Việt Nam. Chúng ta đang tự tin làm thương mại điện tử theo kiểu Việt Nam, có rất nhiều điểm yếu mà nếu nhân rộng điểm yếu này thì tui e rằng thương mại điện tử sẽ chính là con dao hai lưỡi mà cả hai bên người mua và người bán đều … nắm đằng lưỡi.

1/ Thương mại điện tử chỉ là một công cụ bán hàng

Hay có một cách nghĩ/nói/làm khác: thương mại điện tử là một kênh bán lẻ trực tuyến.

Tức là, có nó (thương mại điện tử) cũng tốt, không có nó cũng không sao.
Tức là, có điện thì mới mua/bán được, không có điện là khỏi mua khỏi bán.

Nói vậy là lòi ra liền cái khuyết điểm bự tổ bố của nó: chỉ hoạt động khi có điện.

Ưu điểm thì nhiều:
- người bán có thể bán được 24/24
- không chiếm dụng mặt bằng để trưng bày hàng (chỉ cần kho để chứa hàng và đóng gói)
- không chiếm dụng bãi đậu xe, không bị kẹt xe, kẹt quầy tính tiền
- không sợ tiền giả, tiền rách
- bán hàng/mua hàng luôn luôn được ngân hàng bảo chứng và có thể tìm lại dấu vết (tracking)
- mở rộng thị trường không giới hạn, miễn sao bạn hỗ trợ đủ ngôn ngữ để giao tiếp với khách hàng.

2/ Thực hành thương mại điện tử – trình bày hàng hóa

Điều tiên quyết là mình phải có một cái trang bán hàng (website).
Thứ hai là phải có một tài khoản ngân hàng (bank account).
Thứ ba là phải làm việc với một cổng thanh toán (payment gateway).
Thứ tư là phải đăng ký một tài khoản bán hàng với ngân hàng (merchant account)

Sơ sơ vậy đi. Nhưng không, người Việt Nam đang làm thương mại điện tử rất ngộ.

Manh mún nhỏ lẻ: các bạn 1/ đăng ký vô một cái diễn đàn, 2/ viết bài mới rao bán hàng, rồi 3/ nhận đặt hàng qua điện thoại/tin nhắn/email, 4/ rồi chờ tiền chuyển qua ngân hàng, hoặc 5/ đem đi giao đâu đó nếu…gần nhà mình rồi thu tiền/thối tiền tại chỗ.

Doanh nghiệp: thuê viết một trang web với bộ mã nguồn (source code) miễn phí như Joomla/ osCommerce/Zencart, rồi gắn thêm plugins miễn phí hoặc hack được vô, rồi tô vẽ giao diện màu sắc, gắn flash lên cho chớp chớp. Sau đó là up hàng lên trang web đó với tốc độ cập nhật về số lượng hàng hóa/màu sắc/tồn kho và giá cả là một năm một lần. Sau đó là thực hành các bước 3,4,5 giống y các bạn làm manh mún nhỏ lẻ.

3/ Thực hành thương mại điện tử – mua và bán hàng

Thay vì người mua và người bán sử dụng tiền điện tử (giao dịch qua ngân hàng, phải trả phí), hầu như 98% (số liệu thực tế của một trang web bán hàng mà tui đang làm) lượng giao dịch của các thương vụ mua bán trên mạng đều là thu tiền trực tiếp khi giao hàng (CoD – Cash on Delivery)

Điều này xảy ra vì nhiều nguyên nhân:
- sự yếu kém của hệ thống ngân hàng. Việt Nam chưa có một hệ thống liên ngân hàng hoàn chỉnh (core banking), do đó, chủ tài khoản của ngân hàng này chưa thể kết nối và giao dịch được với các chủ tài khoản ở các ngân hàng khác.
- tâm lý nghi hoặc của người mua – ai biết mình chuyển tiền cho nó xong nó có bán hàng cho mình không? Chúng ta luôn tự hào rằng Việt Nam là một quấc gia luôn đùm bọc, tôn trọng, yêu thương và tin tưởng lẫn nhau, nhưng cứ nhìn vô thương mại điện tử của Việt Nam là chúng ta thấy câu nhận xét trên là tầm bậy liền.
- sự ngại tốn chi phí cho các giao dịch thông qua ngân hàng. Thông thường người bán phải trả một khoản phí khoảng 1.5% đến 2.2%/tổng giá trị thanh toán cho mỗi giao dịch nhận tiền qua tài khoản từ phía người mua chuyển vô tài khoản của mình. Người mua cũng sẽ phải trả phí duy trì thẻ thường niên, và cũng sẽ phải trả 1.5% cho mỗi giao dịch thành công cho ngân hàng.

——————————

Đang viết tự nhiên mất hứng, chắc tại vừa viết vừa chat, thôi để lại, bữa nào tui có hứng thì moi bài này lên viết tiếp vậy, hihi!

Sàigòn là gì trong mắt em?

9 Comments

Sàigòn, như rất nhiều người đã nói về nó: “chẳng có cái gì để nhớ thương lưu luyến, chẳng có cái gì để mong ngóng đợi chờ, đó chỉ đơn giản là một nơi chốn để đi về, để mưu sinh và để tìm đường tiến thân trong xã hội!”

Nghe câu nói đó, giống câu một cô gái nói về một người đàn ông nào đó: tao chỉ đi với hắn vì hắn cung phụng cho tao thôi, chứ yêu đương gì cái thứ đó.

Nghe câu nói đó, giống câu một nhân viên nói về một công việc của mình: tui làm là vì lương cao thôi chứ chỗ đó có cái khỉ khô gì đâu hay ho.

Nghe câu nói đó, cảm giác hoàn toàn giống như một thằng chồng bị con vợ của nó lừa dối và phản bội: tui ở với anh là vì cái này cái nọ, chứ thiệt ra tâm hồn tui là dành hết cho người ở quê nhà kìa.

Phũ phàng vậy sao? Lợi dụng nhau vậy sao? Nghe sao mà chạnh lòng quá vậy nè. Em đến rồi đi hay em ghé qua và em sẽ ở lại?

Bạn tui từ nhiều nơi khác đến Sàigòn, trong nhiều câu chuyện của họ thì quê nhà hiện lên như một bức tranh cổ tích, đẹp đẽ và đầy màu sắc, đầy sự cuốn hút và sôi nổi, lôi cuốn người nghe. Người từ non cao thì kể về núi rừng, người từ duyên hải thì kể về biển khơi sóng cả, người từ sông nước thì kể về chiếc xuồng ba lá, về mùa cá linh, những câu chuyện nào cũng hay, cũng gợi nhớ một miền quê xa ngái mà thấm đượm nỗi yêu thương.

Tui cũng muốn kể về quê tui, nhưng tui chẳng có gì khác lạ để nói về Sàigòn, vì ai cũng đang thấy nó, đang sống trong nó và đang cảm nhận nó, một cách khô cằn và gượng gạo. Tui không kể được về những con hẻm Sàigòn, vì những con hẻm mà bạn bè tui đang ở đã quá chật chội và oi nồng. Tui không kể được về những con đường Sàigòn hồi xưa vì những con đường mà bạn bè tui đang đi hàng ngày đã quá chen chúc và hỗn tạp. Tui không kể được về những góc đường Sàigòn đầy cây xanh bóng mát vì nhìn quanh những gốc cây bây giờ đầy mùi xú uế. Tui không kể được về những con người Sàigòn mà tui yêu mến và ngưỡng mộ vì Sàigòn ngày nay đầy lưu manh và đạo tặc.

Vậy thì phải rồi, tui trách được điều gì, khi mà người ta nói rằng Sàigòn có gì đâu mà lưu luyến. Thân ở nơi này mà hồn thì cứ mong ngóng về một miền quê xa ngái, nên những gì diễn ra xung quanh mình cũng chỉ là những hình ảnh loang loáng trôi qua, mắt vẫn nhìn nhưng tâm không thấy, tay vẫn làm nhưng không đặt để những yêu thương, chân vẫn đi nhưng chẳng nhớ được tên đường, và miệng vẫn cười, môi vẫn nói nhưng đều vì miếng cơm manh áo.

Bây giờ chén cơm gạo trắng tinh ăn với thịt cá ê hề ở Sàigòn làm sao sánh bằng củ khoai lang nướng thơm lựng ở ngoài quê hồi con nít, phải không em!

Vậy đó, cứ mỗi lần một ai đó nói rằng: Sàigòn này chẳng bằng quê em, thì tui chỉ cười, mà không nói, vì tui biết rằng, người ta luôn mong ngóng về những gì đẹp đẽ và không thực tế!

Sàigòn không đẹp đâu em, nhưng Sàigòn nuôi sống hơn tám triệu con người!

Ghi ngắn: một (trong những) lý do khiến người Việt yếu hèn

6 Comments

Đó là cái văn hóa (hay còn gọi là thói quen của đám đông) không dám/không muốn nói thẳng.

Một cái biểu hiện rõ ràng của văn hóa (thói quen) này là chữ Tùy hay chữ Hên Xui.

Giờ đây, người Việt Nam có xu hướng xài chữ Tùy để trả lời cho các câu hỏi Có/Không.

Ví dụ:
- Bạn có rảnh không? Tùy (coi rảnh để làm gì có lợi cho mình không?)
- Bạn có tiền không? Tùy (coi mày có mượn tao không?)
- Đi cafe hông? Tùy (coi đi chỗ mình có thích không?)
- Bạn có làm được công việc này không? Tùy (coi mình có lợi lộc gì hay không?)
- Bạn biết về cái gì đó không? Tùy (coi nó có nhờ mình làm cái đó không)

Điều này xuất phát từ tập tính định canh định cư của người á đông nói chung, và xuất phát từ văn hóa làng xã của người Việt Nam nói riêng.

Khi mà chúng ta phải gắn bó cuộc đời mình, ngôi nhà mình, công việc của mình với một nơi chốn, một cộng đồng một cách quá chặt chẽ, thì chúng ta có xu hướng lệ thuộc và dựa dẫm vào những điều đó.

Và khi đã có tâm lý dựa dẫm, tất nhiên chúng ta phải dè chừng và quan sát lẫn nhau. Chúng ta sợ phải từ chối một cái gì đó, một ai đó, khi mà trong quan niệm của người Việt thì từ chối nghĩa là phủ nhận, mà phủ nhận tất nhiên sẽ hàm ý tiêu cực.

Người Việt sợ, rất sợ những hành động làm cho người khác nghĩ rằng mình là một người “tiêu cực”, hay nói rõ ràng hơn là chúng ta sợ làm mất lòng người xung quanh.

Từ đó nảy sinh một tập tính làng xã: trong lòng không thích nhưng miệng không dám nói ra.

Và khi chúng ta phát triển từ làng xã thành những đô thị hiện đại, nét văn hóa đó vẫn không hề thay đổi, mà nó còn phát triển thêm dưới nhiều góc độ khác nhau.

Thí dụ:

- Tui hỏi thằng bạn: mày có thích chơi với cái đám kia không? Nó thì không thích cái lũ nhậu nhẹt bừa phứa, nhưng trước mặt mọi người thì nó chắc chắn không dám nói rằng nó không thích, tại vì nó mà nói không thích thì bạn đâu ra cho nó chơi, cho nên nó nói: ờ, tao thấy tụi nó chơi cũng được.

Thế thì chết mẹ rồi! Mày không thích tụi nó, nhưng mà mày nói tụi nó chơi được, và mày vẫn đi chơi với tụi hổ lốn đó, vậy mày là cái đ… gì?

Thằng bạn tui nó nói: tao không thích, nhưng đó là quan hệ xã giao, tao phải đi lại với tụi nó.

Chính cái tính linh hoạt đó của người Việt Nam đã dẫn đến một nét văn hóa rất Việt: tùy tiện và bừa bãi.

Chúng ta không thích một điều gì đó, nhưng chúng ta vẫn chấp nhận nó, và chúng ta ngụy biện rằng sống phải linh hoạt, phải thích nghi, phải thay đổi vân vân, để qua đó chúng ta đạt được mục đích của mình.

Đó là yêu ghét không rõ ràng. Đó là tùy tiện. Đó là Tâm không Trung Chính. Đó là Ngôn không Thuận.

Hay theo Khổng Phu Tử thì đó là tiểu nhân.

Hành động đó không phải là của người có học, mà đó là xảo ngôn và ngụy biện cho những mục đích yếu hèn, dựa dẫm và lợi dụng lẫn nhau trong cái văn hóa lớn lao của đất nước chúng ta: văn hóa làng.

Và nếu cả một đất nước này tiểu nhân chiếm đa số, thì đó có phải là một (trong những) lý do khiến người Việt yếu hèn hay không?

Ký Ức Rừng

7 Comments

Xuân 1993 – Bình Châu

Ngày đó đi cắm trại trong rừng Bình Châu, tôi vẫn còn là một Thiếu Sinh trói gà không chặt.

Rừng vẫn muôn đời xào xạc, và nơi chúng tôi cắm trại vẫn chưa được dọn quang cây cối. Cả đám lui cui lượm lặt cây khô để dành đốt lửa trại, dọn cỏ phát quang khu lều, đào bếp đóng cọc cả buổi, giữa âm thanh lao xao của lá cây, mùi cỏ ướt, mùi đất ẩm, và tiếng của rừng của cây rỉ rả bên mình.

Nắng của những năm chín mươi mấy hình như không gắt gỏng như bây giờ, mà dịu dàng và thân thiện, xuyên qua đám lá cây và điểm xuyết lên những mái lều chữ A xanh thẳm giữa rừng Bình Châu vắng lặng. Tôi nằm bên trong lều, gối đầu lên hai tay bắt chéo và ngắm nhìn những họa tiết của thiên nhiên soi rọi đó, lắng nghe âm thanh xào xạc của rừng, hít ngửi mùi cây cỏ thơm ngát, tự nhiên cảm thấy mình sung sướng.

Trưởng dặn không được bẻ cây tươi mà chỉ nhặt cây khô làm củi. Không được bắt giết thú rừng nếu không bị tấn công. Không được làm vẩn đục nước đầu nguồn. Không được khắc lên thân cây, đốt lửa trại phải dọn quang cây cối, cẩn thận cháy rừng, đào hố rác, dọn rác và lấp lại sau khi dọn trại. Trưởng muốn dạy chúng tôi không được làm tổn thương thiên nhiên, và cho tới bây giờ tôi vẫn hành động đúng y như vậy.

Nhớ những buổi tối tĩnh tâm trong tiếng xào xạc của rừng, tiếng rỉ rả của côn trùng và những tiếng thì thầm nho nhỏ của anh em Hướng Đạo quanh đống lửa trại âm ỉ đỏ hồng và ấm áp trong đêm.

Hè 1993 – Rừng Long Khánh

Trưởng dẫn cả đám leo núi Đầu Rìu, cả đám Thiếu Sinh tập bài học leo núi đầu tiên trong đời, đi lên bằng mũi và đi xuống bằng gót, khi bị trượt thì đừng cố gắng dừng lại, mà cứ để trượt rồi tìm nơi bám lại. Trưởng mang theo cây súng hơi dự định bắn những con gà rừng mang về làm bữa, ngắm bắn trong sự tập trung nín thở của cả đám Thiếu Sinh, mà toàn bắn hụt chẳng chết con gà nào, dù khoảng cách chỉ là năm mười mét. Sau này mới biết súng của Trưởng đã không lắp đạn.

Buổi tối mưa dầm. Những mái lều chữ A đóng xuống đất bằng 6 cây cọc đơn sơ không đủ sức chịu đựng mưa rừng, nước chảy tràn vách và ngập rãnh bên hông lều, cả đám Thiếu Sinh lóp ngóp dầm mưa ngồi … hát. Trưởng chạy đâu đó, mượn được mấy phòng học giữa rừng, kéo cả đám vô ngồi trú mưa, muỗi mòng bay lượn như hoa cỏ mùa xuân và cóc nhái gặp mưa ộp oạp cả đêm, kéo lên sân trường ngắm mưa đêm cùng đám nhóc.

Buổi sáng họp đoàn sớm, đất trại vẫn còn sình bùn nhão nhoẹt. Trưởng vẫn kiên quyết họp đoàn đủ thủ tục chào cờ, đọc điều luật, và cả đám nhìn nhau hãi hùng khi Trưởng kêu: Đất Ta (phải đáp Ta Ngồi rồi ngồi xuống). Trưởng dạy một bài học rằng, Thiên Nhiên có khi không hiền hòa, và cuộc sống đầy sình bùn nhão nhoẹt, nhưng sẽ có lúc chúng ta sẽ phải ngồi xuống đống sình bùn đó, và rồi sẽ phải đứng lên mà không đưa tay phủi quần phủi áo.

1994 – Lái Thiêu

Đất trại nằm trong một khu vườn cây ăn trái và kế một nhánh sông nho nhỏ. Cả đám Thiếu Sinh loay hoay dựng lều vì mặt đất không bằng phẳng và không thể đóng cọc. Phải dựa vào thiên nhiên, mượn những gốc cây làm cọc, mượn những thân cây làm trụ để căng mái lều, và phải thắt những nút dây nào không làm chết những chồi non.

Nửa đêm đội trưởng Báo Gấm mò qua lều Hùng Sư trộm cờ Đoàn rồi giấu, để buổi sáng họp đoàn đội trưởng Hùng Sư gãi đầu gãi tai lia lịa và cả đám Hùng Sư đổ đi tìm cờ đoàn thất tha thất thểu.

Đội trưởng Tê Giác đi trại chuẩn bị nấu canh bí mà không đem theo trái bí, phải đi xin đội Báo Gấm nửa trái, rồi về tự giác mang qua nửa nồi mì gói trả lễ.

Lửa trại đêm trong vườn cây ăn trái không hừng hực ồn ào mà râm ran âm ỉ. Không lượm được cây khô, có đứa cả gan rút luôn những khúc tre dựng luống, bị Trưởng rầy phải đi cắm lại cho người ta, luôn tiện cả đám học được vụ xới đất lên liếp trồng rau.

Gỗ không xếp được kiểu chuồng bò, mả phải dựng chụm nhau rồi đốt để đỡ tốn cây. Chúng tôi vùi những củ khoai lang dưới đất quanh đống lửa, rồi chơi những trò chơi trong chập chờn ánh sáng và lung linh những miệng cười.

1994 – Tây Ninh

Lần đầu tiên dựng lều ven sườn núi, đất trại không có chỗ nào để đóng cọc, và gió núi cứ chực chờ thổi tung những mãi lều và những cái bếp lộ thiên không thể đào vào đá. Nước không có sẵn, phải leo ngược lên suối rồi vác nước về trại, cả đám cũng không biết đó có phải là một bài họchay không, khi ngay bên cái hồ trên núi cũng có một bãi đất bằng phẳng mà Trưởng không cho cắm trại ở đó.

Lửa trại trên núi cực kỳ khó đốt, và trò chơi tập thể cực kỳ khó vận động, bởi sơ sẩy là tàn lửa bay xuống đốt trụi những tán rừng, và sẩy chân là sẽ có thằng … lọt núi.

Vậy mà đêm tĩnh tâm trên núi lại là những bài học về chòm sao Bắc Đẩu, Thần Nông, Đại Hùng. Cả đám nằm ngửa mặt lên đêm và ngắm sao theo ánh đèn pin của Trưởng, mù mờ thôi, nhưng cũng nhận biết được sự sắp xếp của sao trời. Cái đầu của Thần Nông nè, cây kiếm nè, cái thắt lưng nè, cái ghế nè, cái đuôi nè… Cả bầu trời như mở ra giữa lưng chừng núi…

Cả đám phải mang vác những cục đá tấn lều, để ngủ khỏi lăn xuống núi. Phải có người thức canh lửa đêm, để tàn lửa khỏi bay xuống những tán rừng phía dưới. Và đêm đó hình như có người cứ hát những bài ca họp đoàn và lửa trại…

1994 – Hồ Cốc

Dựng lều trên đất trại là rừng dương quả thật không dễ chút nào, khi cây cọc phải dài một thước mà đóng lút vẫn không thể căng chặt dây lều. Gió biển cứ thổi vô đất liền phần phật, và lửa trại phải nhờ đến Trưởng đốt mới ngún rồi cháy được.

Hố rác trên biển phải đào sâu hơn, đào bếp phải đặt thêm mấy cục đá, nấu ăn phải cẩn thận hơn, và chơi trò chơi phải khác hơn. Những mật thư ướt tèm lem, cả đám ngồi chụm lại lật sổ tay Thiếu Sinh tìm cách giải.

Đêm tĩnh tâm trên biển, tai nghe tâm sự của anh em, tai còn lại nghe rì rào tiếng sóng, tiếng gió của biển đêm rào rạt. Học được rằng nên ngồi đối diện để người này quan sát lưng người kia. Gió không át được những tiếng ca đêm, những bài hát cộng đồng, những lời nói thì thầm to nhỏ về mong ước, về con đường trước mặt, về suy nghĩ của Thiếu Sinh trước những điều luật Hướng Đạo.

——
Còn nhiều, nhưng tôi không nói hết được.

Vậy đó, những cánh rừng, những tán lá khô, những cành củi mục, mùi cỏ cây ngai ngái, sắc lửa đỏ ấm áp lan truyền, những bàn tay nắm chặt, những nút bò nút chết, những lời thì thầm to nhỏ, những thực hành sống với thiên nhiên ngày nào đã hình thành những kỷ niệm của một Hướng Đạo Sinh không quên trong tôi.

Những thực hành đào bếp, cứu thương, lửa trại, quản trò, theo dấu, tìm sao, mật thư luôn hấp dẫn tuổi trẻ, và nó tạo cơ hội cho chúng tôi sống hòa hợp với thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên mà sinh tồn. Những bài học đó đã trở thành những ký ức rừng của một Thiếu Sinh ngày trước, và luôn tồn tại rõ nét trong muôn vàn những ký ức khác của tôi.

Để đến những ngày 20 tuổi, tôi xách xe đi xuyên việt với thằng bạn mà không cần biết trước mặt mình là gì!

Bởi vì tôi đã từng là một Hướng Đạo Sinh, luôn luôn Sắp Sẵn, luôn luôn Dẫn Đường.

Việt Nam – một nền văn hóa nguy hiểm

11 Comments

Văn hóa Cào bằng

Văn hóa Ước lệ tượng trưng

Văn hóa Duy ngã độc tôn

Văn hóa Tùy tiện

Văn hóa Sĩ diện

Văn hóa Lý lẽ lý luận

Văn hóa Năng thuyết bất năng hành

Văn hóa Mua có bạn bán có phường sẽ dẫn tới bắt chước mà không sáng tạo, dẫn tới sự che giấu bí quyết.

Older Entries